Đề bài: Vẻ đẹp của bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:

“Ta về rồi, ngươi có nhớ ta không,

(…) Nhớ ai chung tình câu hát ân tình”.

Bài giảng: Việt Bắc: phần 2: Công việc – Cô Nguyễn Ngọc Anh (GV )

“Việt Bắc” – bài thơ lục bát mang tầm vóc của một thiên anh hùng ca dài 150 câu, dạt dào cảm xúc. Bài thơ ra đời vào tháng 10 năm 1054, ngày Hà Nội được giải phóng. Qua bài thơ, Tố Hữu đã thể hiện một cách nồng nàn tình yêu Việt Bắc, tình yêu cách mạng và cuộc kháng chiến.

Đoạn thơ mười câu dưới đây, từ câu 43 đến câu 52 trong bài thơ “Việt Bắc” thể hiện rất nhiều nỗi nhớ da diết, da diết về Việt Bắc:

“Ta về rồi, ngươi có nhớ ta không,

Nhớ ai chung tình câu hát ân tình”.

Hai câu thơ đầu là lời hỏi đáp của “ta”, của người cán bộ kháng chiến đi về tự hỏi mình “có nhớ ta không”. Dù ngược xuôi, dù cách xa nhưng lòng ta vẫn lưu luyến Việt Bắc: “Anh về nhớ hoa với em”. Chữ “ta”, chữ “nhớ” được chép lại thể hiện tấm lòng trung nghĩa. Nỗi nhớ ấy hướng về “hoa và người”, hướng về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và con người Việt Bắc:

“Anh về rồi, em có nhớ anh không?

Em về, em nhớ hoa đến anh”.

Hai từ “ta – ta” xuất hiện với tần suất cao trong bài thơ, cũng như trong hai câu thơ này, thể hiện đẹp đẽ tình cảm lứa đôi trong tình yêu Việt Bắc, đồng thời làm nên giọng thơ. trở nên thiết tha bồi hồi như bản tình ca ngày xưa. Đó chính là giọng điệu trữ tình và tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.

Tám câu thơ tiếp theo, từng cặp lục bát thể hiện nỗi nhớ cụ thể về một cảnh cụ thể, một con người cụ thể trong bốn mùa đông, xuân, hạ, thu.

Nhớ màu “xanh” của núi rừng Việt Bắc vào mùa đông, nhớ màu “đỏ tươi” của hoa chuối như đốm lửa thắp sáng rừng xanh. Nhớ những người đi nương rẫy “eo lưng dao” trong tư thế mạnh mẽ, hào hùng đứng trên đèo cao “nắng…”. Đồng dao của người đi nương phản chiếu “nắng” rất gợi cảm:

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích tác phẩm Bắt sấu rừng U Minh Hạ hay nhất (dàn ý – 5 mẫu)

“Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao trong nắng ánh thắt lưng thắt lưng”.

Màu “xanh” của rừng, màu “đỏ tươi” của hoa chuối, màu lấp lánh của “ánh nắng” từ ca dao; Những màu sắc đó hài hòa với nhau làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên Việt Bắc, của con người Việt Bắc đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống trong thời kỳ kháng chiến. Tố Hữu đã có cái nhìn phát hiện về sức mạnh tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân ta do cách mạng và kháng chiến đem lại. Lao động sản xuất đang anh dũng đứng trên “đèo cao” ngập nắng gió. Khi đông người đi chiến dịch thì “chân đạp nát, lửa bay”. Người lính ra trận mang theo sức mạnh vô địch của thời đại mới:

“Những ngọn núi không thể giữ vai của họ lên

Lá ngụy reo theo gió đèo”.

(“Về Tây Bắc”)

Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mai “nở trắng rừng”. Từ “trắng” là một tính từ chỉ màu được chuyển từ loại sang bổ nghĩa cho “nở trắng” gợi một thế giới hoa mơ phủ khắp cánh rừng Việt Bắc một màu trắng tinh khôi, ngút ngàn. Cách dùng từ tài hoa của Tố Hữu làm ta liên tưởng đến câu thơ tả mùa xuân thơ mộng, trinh nguyên của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

“Cỏ xanh tận chân trời,

Có vài bông hoa trên cành lê trắng”.

Nhớ “hoa mơ nở trắng rừng”, nhớ người thợ đan nón “chuốt sợi rừng giang”. “Đặt” có nghĩa là tỏa sáng trên các sợi mỏng. Bằng sự khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ, người ta có thể “chải từng sợi” để đan thành những chiếc mũ, nón phục vụ kháng chiến, để người lính đi chiến dịch có “sao đầu súng, mũ ấy”. Người đan nón mà nhà thơ nhắc đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa, sáng tạo của người dân Việt Bắc. Mùa xuân Việt Bắc đáng nhớ:

“Ngày xuân hoa nở trắng rừng,

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi”.

Nhớ Việt Bắc là nhớ mùa hè với tiếng ve ngân làm nhạc rừng, nhớ màu vàng rừng phách, nhớ cô gái “hái măng một mình” giữa rừng nứa, rừng trúc:

Xem thêm bài viết hay:  30+ mẫu Kể về một buổi biểu diễn nghệ thuật Xiếc – Tập làm văn lớp 3

“Tiếng ve gọi rừng đổ vàng,

Cô em hái măng một mình”.

Một cú “đổ” tài tình. Tiếng ve kêu “đổ” xuống, nhắc ngày hè qua mau, làm cho rừng thêm vàng. Xuân Diệu cũng có câu thơ dùng từ “đổ” để gửi gắm nỗi niềm tương tự: “Đổ trời ngọc qua kẽ lá…” (Thơ giao duyên – 1938). Đoạn thơ “Nhớ em gái hái măng trúc một mình” là một đoạn thơ độc đáo, giàu vần và điệu. Có vần lưng: “Gái” vần với “hái”. Có sự ám chỉ qua các phụ âm “m”: “xoài – một – me”. Đây là những bài thơ nên họa nên nhạc, tạo nên một không gian nghệ thuật đẹp vui nhộn, tràn ngập âm thanh. “Em gái hái măng một mình” vẫn không cảm thấy đơn độc, bởi mình đang làm việc giữa tiếng nhạc rừng, hái măng góp phần “nuôi quân” ​​phục vụ kháng chiến. Cô gái hái măng là một nét trẻ trung, đằm thắm trong thơ Tố Hữu.

Nhớ hè rồi thu Việt Bắc, nhớ mãi, nhớ trăng ngàn, nhớ câu hát:

“Rừng thu trăng soi bình yên,

Nhớ ai chung tình câu hát ân tình”.

Trăng xưa “vàng gieo nước cây trong sân”. Trăng Việt Bắc trong thơ Bác là “vầng trăng cổ thụ in bóng lồng hoa”. Người cán bộ kháng chiến về nước nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu, vầng trăng “soi” qua tán lá rừng xanh, vầng trăng trong lành dịu mát mang màu “hòa bình” nên thơ. “Ai” là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, “nhớ ai” là nhớ về tất cả, về tất cả những con người Việt Bắc giàu lòng trung nghĩa đã hy sinh quên mình vì cách mạng và kháng chiến.

Bài thơ này tràn ngập tình yêu. Nỗi háo hức bồi hồi dường như thấm sâu vào cảnh vật và lòng người, khi người về lại nhớ ta, nhớ ta. Tình yêu ấy thật sâu đậm, biết bao ân tình thuỷ chung. Năm tháng sẽ qua đi, những khúc hát về tình yêu chung thủy ấy sẽ mãi như một vết son đỏ thắm in sâu vào lòng người.

Đoạn thơ mang vẻ đẹp của một bức tranh tứ bình độc đáo, đậm đà phong vị dân tộc. Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là mùa đông năm 1946, mùa thu tháng 10 năm 1954, thủ đô Hà Nội được giải phóng – Tố Hữu cũng bày tỏ nỗi nhớ Việt Bắc qua bốn mùa đông – xuân – hạ – thu, theo dòng chảy của lịch sử. Mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng đầy sức sống: màu xanh của rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu trắng của hoa mai, màu vàng của rừng hổ phách, màu xanh của vầng trăng thanh bình. Thiên nhiên Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thật hữu tình và đẹp một cách cổ điển. Những người được nhắc đến không phải là dân chài lưới, tiều, canh, con mọt mà là người đi rẫy, người đan nón, người chị hái măng, người đang hát giao duyên chung thủy. Tất cả đều thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Bắc: cần cù, làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời trong lao động, kiên nhẫn, khéo léo, tài hoa, lạc quan trẻ trung, yêu đời, nhân hậu. trung thành với cách mạng và kháng chiến.

Xem thêm bài viết hay:  Dàn ý Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu hay nhất

Giọng thơ ngọt ngào, thiết tha vực dậy tâm hồn người đọc. Nỗi nhớ được nhắc đến trong “Việt Bắc” cũng như trong đoạn thơ này thể hiện một nét đẹp trong phong cách thơ Tố Hữu: chất trữ tình dân tộc và chất dân tộc, màu sắc cổ điển và chất hiện đại được kết hợp làm một. cách hài hòa.

Hình ảnh đẹp, phong phú, gợi cảm. Một không gian nghệ thuật tràn đầy sức sống, có đường nét, âm thanh, màu sắc, ánh sáng, kết cấu hài hòa, để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn ta như Bác Hồ đã từng viết: “Cảnh rừng Việt Bắc thật là tốt…”

Thơ chân chính “là hình tượng, hình tượng con người…, từ cái hữu hình đánh thức cái vô hình bao la” (Nguyễn Tuân). Đoạn thơ trên gợi lên trong lòng ta tình yêu Việt Bắc, niềm tự hào về đất nước và con người Việt Nam. Đoạn thơ “nhịp mãi trên một trái tim điệp điệp”, cho ta thương, ta nhớ tình Việt Bắc, tình người kháng chiến.

Xem thêm các bài văn mẫu lớp 12 luyện thi THPT Quốc gia:

viet-bac.jsp

Các bộ đề lớp 12 khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *