Soạn bài đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

Soạn bài đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

(Trong Tuyển tập Huy Cận tập 1 – NXB Văn học, Hà Nội, 1986)

I. Đôi nét về tác giả

Huy Cận họ Cù sinh năm 1919, quê ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một trong những nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới. Tác phẩm chính: Lửa thiêng (1940), Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Những năm sáu mươi (1968), Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984)… Ông mất năm 2005 tại Hà Nội.

II. Đọc – hiểu văn bản

Câu 1. Bài thơ được triển khai theo trình tự chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. Dựa vào trình tự ấy ta có thể xác định bố cục của bài thơ như sau:

– Hai khổ đầu 1, 2: Cảnh ra khơi và tâm trạng nao nức của con người.

– Bốn khổ giữa 3, 4, 5 và 6: Cảnh lao động đánh cá trên biển cả bao la hùng vĩ và giàu có về đêm.

– Khổ thơ cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá lúc trở về rạn đông ngày mới.

Với bố cục như trên, bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận đã mở ra một không gian rộng lớn bao la với cảnh mặt trời, biển, trăng sao, mây gió và thời gian là nhịp tuần hoàn của vũ trụ từ hoàng hôn đến bình minh, thời gian của một chuyến đánh cá, từ lúc mặt trời xuống biển đến lúc đội biển nhô lên trong một ngày mới. Nhịp tuần hoàn của thiên nhiên vũ trụ đã điểm nhịp thời gian cho công việc của đoàn thuyền đánh cá.

Câu 2. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa của cảm xúc thiên nhiên, vũ trụ và cảm xúc về lao động và người lao động. Đó chính là hai cảm hứng bao trùm và thống nhất hòa quyện chặt chẽ với nhau.

Vẻ đẹp của lao động và người lao động được Huy Cận thể hiện trong khung cảnh kì vĩ tráng lệ của thiên nhiên vùng biển. Cảm hứng lãng mạn của nhà thơ đã tạo nên những hình ảnh rực rỡ và lộng lẫy như những bức tranh sơn mài rộng lớn và huyền ảo nối tiếp nhau trong bài thơ.

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Trong khổ thơ này, vẻ đẹp hùng vĩ của biển cả được thể hiện với gió, trăng, mây, với biển cả chiều cao, chiều rộng và cả chiều sâu. Công việc đánh cá tập thể trên khơi được gắn với vũ trụ thiên nhiên thật là hùng tráng biết bao: lái gió với buồm trăng, lướt giữa mây cao với biển bằng, dàn đan thế trận…

Công việc đánh cá của ngư dân ở đây như một trận đánh hào hùng có sự tham gia của cả thiên nhiên:

Ta hát bài ca gọi cá vào,

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.

Phải chăng vì thiên nhiên quá đẹp làm cho con người thêm hào hứng nhiệt tình say mê lao động của con người, thiên nhiên như cũng sẵn sàng hòa đồng, thâm nhập theo.

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Có thể nói công việc lao động của người đánh cá giữa biến trời như đã gắn liền hài hòa với nhịp sống của thiên nhiên trời đất.

Câu 3. Bài thơ lặp đi lặp lại bốn lần chữ hát, cả bài như một khúc ca sảng khoái, khúc ca lao động tác giả đã làm thay lời những người thợ biển, những người lao động mới là nhân vật của bài thơ. Khúc ca phơi phới, hào hứng, khỏe khoắn và mạnh mẽ có sự hài hòa điệu nhịp nhàng của âm thanh, ánh sáng, màu sắc và những động tác của con người cộng với sự vận động tuần hoàn của biển trời, thiên nhiên, vũ trụ.

Đoàn thuyền đánh cá ra khơi, buồm căng lên vì gió khơi và câu hát. Con người đi vào biển khơi trong tiếng hát đầy nhiệt tình của niềm vui lao động. Cảnh lao động “dàn đan thế trận” trên biển với tất cả vẻ đẹp của biển trời và sự hào hứng say mê, khẩn trương, tất bật của con người đã thành quy luật.Với họ, mỗi lần ra khơi là một niềm vui lớn lại tới. Đó là những con người có tầm vóc sánh ngang cùng với thiên nhiên kì vĩ; những người lao động làm chủ tạo vật thiên nhiên, làm chủ công việc của mình, làm chủ cuộc sống này.

Lúc đi, lúc làm việc, lúc về họ cũng đầy tinh thần khẩn trương hào hứng như thế.

Âm hưởng khỏe khoắn, phơi phới, hào hùng của bài thơ đã được tạo nên do sự góp phần của lời thơ, nhịp điệu và vần. Thi sĩ Xuân Diệu đã nhận xét: “Lời thơ dõng dạc, điệu thơ cất lên tiếng hát, có cả tiếng “gõ thuyền” hơi thơ vừa kim, bởi không khí làm ăn phấn chấn, vừa cổ, cổ thể, cổ điển, những vần thơ trắc đưa sức dội, sức mạnh cho bài thơ; từ thực tế nhưng không đóng khung trong thực tế mà xuất phát, mà mơ mộng (…) Bài thơ lặp đi lặp lại bốn lần chữ “hát” thực chất là một bài ca sảng khoái, phối  hợp nhạc điệu với những động tác dồn dập mở ra bằng “Mặt trời xuống biển”, đóng lại bằng “Mặt trời đội biển” mà; ở giữa là: cài then, sập cửa, ra khơi, căng buồm, dệt biển, dàn đan thế trận, đêm thơ sao lùa, kéo lưới xoăn tay, lưới xếp buồm lên rồi “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” mà trở về.

(Lời giới thiệu Tuyển tập Huy Cận tập 1, NXB Văn Học Hà Nội, 1986)

Câu 4. Bài thơ có nhiều hình ảnh đẹp và tráng lệ về thiên nhiên và đoàn thuyền đánh cá.

Trước hết là cảnh biển vào đêm:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa.

Đêm buông xuống… tác giả đang ở ngoài đảo nhìn vào phía đất liền, vẫn là biển và đã có được một cái nhìn đầy thú vị: “Mặt trời xuống biển”. Vũ trụ như thể một ngôi nhà khổng lồ, màn đêm là cánh của vĩ đại với những lượn sóng là then cửa. Mặt trời xuống biển như hòn lửa và sóng cài then đêm sập cửa. Đây là cách nhân hóa và so sánh thật chính xác của nhà thơ. Sự đóng khép nhanh, mạnh, nặng nề, vững chắc này thể hiện bằng từ sập và hai vần liền mang thanh trắc (lửa, cửa) thật nặng nề.

Trong hoàn cảnh đêm tối vừa nói, đoàn thuyền ra khơi với một khí thế hăng hái, vui tươi và mạnh mẽ:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm với gió khơi.

Câu hát căng buồm là một hình ảnh nhân hóa thật đặc biệt, cùng với hai vần liền mang thanh bằng (không dấu) thật nhẹ nhàng (khơi – khơi) đã thể hiện đặc sắc khí thế của đoàn thuyền.

Nếu hai câu đầu tất cả như đóng khép lại thì đến đây, hai câu tất cả như đã mở ra.

Tiếp đến, khi ra khơi xa, cảm hứng lãng mạn đã giúp thi sĩ khám phá ra vẻ đẹp của cảnh đánh cá đêm trên biển: gió và trăng bát ngát nên thơ cũng hòa nhập với đoàn thuyền, tham gia vào công việc đánh cá khẩn trương hào hùng như một cuộc chiến đấu: 

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Lưới giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển.

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Trong cảm nhận của thi sĩ con thuyền đánh cá nhỏ bé trước biển cả bát ngát đã trở nên kì vĩ, khổng lồ. Tưởng như có sức thần Phù Đổng, con thuyền đã hòa nhập ngang tầm với kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ đủ sức để: lái gió, buồm trăng, mây cao, biển bằng, dò bụng biển, dàn đan thế trận.

Và cả công việc lao động trên biển hiểm nguy, nặng nhọc cũng đã trở thành ca nhịp nhàng hòa điệu giữa vụ trụ con người:

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao…

… Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng…

Nhưng lộng lẫy hơn cả, rực rỡ hơn cả, đẹp đến huyền ảo là hình ảnh các loài ca biển phong phú và sinh động qua cách so sánh, nhân hóa, miêu tả của thi sĩ:

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

… Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

…. Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cái đuôi em vẫy trăng vàng chóe

… Vẫy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi…

Đó là một số trong nhiều hình ảnh đẹp và tráng lệ nhất của bài thơ.

Câu 5. Có thể nói Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một bài thơ đặc sắc ca ngợi vẻ đẹp thi vị của đêm đánh cá trên biển khơi. Nói là đánh cá đêm nhưng lại tràn đầy ánh sáng lắm sắc nhiều màu, từ ánh sáng của trăng sao đến ánh sáng của cá và của biển. Tuy nhiều mức độ nhưng tất cả đều chói sáng làm cho cảnh sắc thiêm rực rỡ tráng lệ, rất huyền ảo mà vẫn thật là chân thực. Có người đã cho đó là cảnh tiếng hát đã đi suốt bài thơ cho đêm đánh cá thật hào hứng vui tươi.